Sắc thuốc đúng cách

Các thủ thuật về bào chế thuốc phiến

02:59 15/09/2016

Công việc bào chế thuốc phiến rât nhiều, nhưng có 4 loại chính

  1. Bằng tay
  2. Dùng nước
  3. Dùng lửa
  4. Dùng lửa và nước.

 

I – LÀM BẰNG TAY

  1. Làm sạch dược liệu:

Rửa: Các dược liệu trước khi đưa ra bào chế đêu phải rửa sạch, thường là các loại củ, rễ, hột (huyền sâm, bạch vi, vừng đen…)

Các rễ, củ phức tạp thì phải tách nhỏ ra rồi mới rửa.

Có những vị khi rủa không nên ngâm lẫn vì mất chất (cam thảo, sinh địa) hoặc không rửa được (Bối mẫu, Quy…).

Dược liệu có  muối cũng phải rửa cho sạch bớt muối (Côn bố, Hải tảo, Diêm phụ…).

Các loại hoa, cành nhỏ (Cúc hoa, Hồng hoa) không nên rửa chỉ chọn lọc hoặc sàng sẩy bỏ tạp chất.

Sàng, sẩy: Dùng giần sàng để bỏ rác, tạp chất lẫn trong dược liệu (Tử tô, Mạn kinh tử, Liên kiều, Cúc hoa).

Chải, lau: Dùng bàn chải lông, tre mềm để chải các dược liệu bị mốc (Hoài sơn, các loại Sâm…). Khai chải, lau có thể dùng nước, dùng rượu rồi đem sấy lại cho khô. Cách dùng này còn dùng để làm sạch những lông gây ngứa ở thân. Lá (Bồng Bồng).

  1. Chọn lựa:

Bộ phận dùng của dược liệu phải chọn lựa để dùng cho thích hợp, đáp ứng với yêu cầu tác dụng của vị thuốc.

Bỏ gốc, mắt: Ma hoàng dùng phát hãn thì dùng thân, bỏ rễ, bỏ đốt nhưng thường dùng cả đốt.

Bỏ rễ con, lông: Vì ít tác dụng, lại gây tác hại, làm nặng thang thuốc (Hoàng liên, Hương phụ, Xương bồ, Tri mẫu).

Bỏ hạch: Hạch là hột cứng trong dược liệu, không có tác dụng thì bỏ đi, ô mai (nhưng ít khi bỏ), Sơn tra.

Bỏ chân, đầu: Thuyền thoái, Toàn yết có móng chân, răng nhọn dùng trong thuốc tán thì bỏ đi, đầu cóc có mủ độc, phải bỏ đầu từ dưới hai u mủ.

Bỏ vỏ, màng: Đào nhân, Hạnh nhân, Sử quân tử có màng không cần đến thì gội nước sôi, để một lúc màng bong ra, tước bỏ đi, có thứ phải rang cho vàng rồi cho tước vỏ (Bạch biển đậu) có thức đập nhẹ cho tróc và lấy nhân (Qua lâu nhân).

Bỏ lõi, ruột: Bách hộ, Mạch môn đông thì ủ hay đồ mềm rối rút bỏ lõi vì gây “phiền”. Kim anh tứ thì nạo bỏ lông.

 

II – DÙNG NƯỚC (thủy chế)

Dùng nước để làm cho dược liệu được sạch,mềm, tiện cho việc thái mỏng, hoặc giảm độc tính hoặc thay đổi tính năng của nó.

Rửa: (đã nói ở trên).

Tẩy rượu: Dùng rượu thường để dầm hay tẩm dược liệu trong 5 – 10 phút rồi đưa ra sắc (Quy, Ngưu tất…).

Ngâm: Dùng nước thường hay nước gạo vo đặc đổ ngập để dược liệu mềm dễ thái, bào hoặc làm giảm độc tính của dược liệu về mặt nào đó (Hoàng nàn, Hà thủ ô, Mã tiền…)

Tùy từng dược liệu thời gian ngâm từ 1 – 24h hay hơn. Ngâm lâu thì hằng ngày phải thay nước ngâm một lần.

Ủ: Dùng nước lã, số lương ít, làm cho dược liệu đủ thấm ướt để dễ bào thái (Ba kích, Hoài sơn, Bạch truật). Nếu ngâm lâm thì làm mất tính chất của thuốc, cách này gọi là ủ, thường muốn ủ thì làm ướt dược liệu rồi lấy bao bố tời, vải ướt đậy kín vài giờ hay vài ngày thì dược liệu mềm, lấy ra bào thái (Xuyên khung…).

Tẩm: Dùng rượu, giấm, muối, gừng nhào vào dược liệu cho đủ ướt để cải biến thay đổi tính chất của dược liệu, cách này rất thường dùng.

Trước khi tẩm dược liệu thường được thái miếng mỏng, phơi, sấy qua cho khô.

Thời gian tẩm tùy từng dược liệu từ vài giờ cho đến 8 – 10 giờ.

Sau khi tẩm rồi đem sao khô, sao cho vàng là được.

Ý nghĩa của tẩm sao:

Tẩm rượu sao: Rượu thường dùng là rượu ta (35 – 40 độ). Tẩm xong để nửa giờ đến 1 giờ rồi đem sao. Lửa nên để nhỏ, sao lâu để rượu đủ sức ngấm vào thuốc, hơi rượu chớm bốc ó mùi thơm bay ra là được. Số lượng rượu dùng tùy theo dược liệu từ 50 đến 200ml cho 1 kg thuốc.

Sách nói: Tẩm rượu sao để thăng đề (dùng rượu để dẫn thuốc lên các bộ phân phía trên cơ thể).

Tẩm rượu sao để giảm tính lạnh, thêm sức ấm cho dược liệu (Hoàng bá, Hoàng cầm, Hoàng liên, Bạch thược, Sơn thù, Tục đoạn, Thường sơn, Nhục dung, Phòng kỷ…).

Tẩm rượu để một số chất của vị thuốc dễ tan vào rượu rồi sau tan vào thuốc sắc.

Tẩm gừng sao: Gừng tươi rửa sạch, giã dập, thêm ít nước, vắt lấy nước để tẩm, để ngấm chừng 1 giờ rồi đem sao, lửa nhỏ, sao lâu cho đến khi có màu vàng thấy mùi thuốc thơm là được. Số lượng nước tẩm từ 5% đến 10 – 15% tùy theo dược liệu.

Thườn 1kg dược liệu phải dùng đến 50 – 100g gừng. Các loại Sâm cũng thường tẩm nước gừng sao thơm để tăng sức bồi dưỡng. Lửa nhỏ, nhiệt độ 50 – 60 độ, thuốc hơi vàng là được, không để già quá.

Có những vị nỏ, hay bị cháy sém như Hồng tu sâm, Nhị hồng sâm, tẩm gừng xong nên sao trên giấy. Trải giấy lên mặt chảo rồi đổ thuốc lên sao cho nhiệt độ từ 30 – 40 độ gọi là sao cách giấy.

Tẩm gừng sao để mượn chất ấm của gừng làm giảm tính lạnh của dược liệu. Gừng làm ấm tỳ vị và giúp thêm tiêu hóa.

Tẩm muối sao: Muối ăn một phần cho 5 phần nước đun sôi, lọc. Lấy nước tẩm đều với thuốc để 1 – 2h rồi đem sao. Lửa nhỏ, sao cho chậm, đến khi mặc dược liệu vàng già là được (Đỏ trọng, Trạch tả, Hoàng bám Ích tri nhân) số lương nước tẩm thường 5%dược liệu.

Tẩm muối sao để vị mặn dẫn thuốc vào thận.

Tẩm giấm sao: Giấm có nhiều loại, thứ tốt nhất là giấm thanh nuội, bằng chuối, bún, mùi chua, thơm và hơi ngọt.

Dùng giấm ăn thường cũng được nhưng đừng chua quá (có thể pha thêm nước ấm cho loãng ra), nhạt quá thì giấm kém tác dụng. Nói chung giấm có độ axit axetic 5% là vừa.

Nếu số lượng nhiều hơn bỏ dược liệu vào 1 cái chậy dội giấm lên đảo đều. Lấy bao tải sạch đậy lại để qua 1 đêm, hôm sau lấy ra từng ít, vàng cạnh là được.

Số lượng giấm dùng thường là 5% dược liệu.

Các dược liệu thường tẩm giấm: Hương phụ, Miết giáp.

Sách nói: Vị chua hay dẫn vào gan.

Sao giấm để chỉ thống, làm tăng tác dụng chỉ thống của vị thuốc (Huyền hồ), giảm tính kích thích của mọt số vị thuốc:

Ví dụ: Giấm là loại axit, tẩm với dược liệu để gây một phản ứng nào đó để thuốc thêm tác dụng trị bệnh.

Tẩm đồng tiện sao: Dùng nước tiểu trẻ em dưới 5 tuổi khỏe mạnh không bệnh tật, mới đái bỏ nước đầu, bỏ cuối, lấy giữa. Sau khi tẩm dược liệu thì đem sao vàng. Số lượng đồng tiện dùng thường là 5% dược liệu.

Tẩm đồng  tiện để dẫn thuốc vào huyết và giáng hỏa (Hương phụ).

Tẩm nước gạo sao: Gạo mới vo, nước gạo nên đặc, không quá loãng.

Số lượng nước gạo thường dùng là 5 – 10% dược liệu.

Tẩm xong để một đêm cho thấm, sấy khô rồi sao vàng cạnh là được.

Tẩm nước gạo vo để làm bớt tính ráo của dược liệu thường là dược liệu có tinh dầu như Thương truật…

Khi thấy đơn ghi tẩm mễ trấm, mễ cam trấp sao thì phải làm đúng kỹ thuật như trên, chứ không phải dùng qua nước gạo rồi sao ngay.

Tẩm sữa: Tẩm sữa để làm vị thuốc bớt tính ráo và dưỡng huyết.

Xưa hay dùng sữa người, nay dùng sữa bò (nửa sữa bò – nước nước sôi). Bạch linh thường hay được tẩm sữa để 1 – 2 giờ rồi sao vàng cạnh. Hoài sơn cũng có dùng sữa tẩm một lúc rồi sao thơm. Khi sao, lửa nhỏ, ít dùng.

Tẩm mật sao: Mật thường dùng là mật mía, tốt hơn là dùng mật ong. Mật không nên đặc quá, đặc quá mật chỉ bám ở ngoài, gặp nóng mật sẽ quánh lại ở phía ngoài mà không thấm vào dược liệu, do đó nên pha thêm một nửa mật và một nửa nước sôi vào thấm rồi đem sao, sao vàng cạnh là được, sao chậm.

Dược liệu thường tẩm mật: Hoàng kỳ, Cam thảo, Tang bạch bì, Tỳ bà điệp, Bạch liên, Củ túc xác, Số lượng mật dùng tẩm tùy theo dược liệu từ 5 – 10%.

Mật là chất ngọt giúp thêm nhiệt lượng cho cơ thể có tích cách bồi dưỡng, chất ngọt làm giảm chất đắng, chất chát của một số vị thuốc, thêm sức ấm bổ cho Hoàng kỳ, Đảng sâm, thêm sức nhuận phế, chữa ho cho Tử uyên, Bách hộ…

Tẩm hoàng thổ sao: Dùng đất vách lâu ngày (trần bích thổ), đất lòng bếp (phục long can) hoặc hoàng thổ (đất sét). Nay thường dùng bột vàng quét tường nhà cứ 100g bột vàng cho một lít nước đun sôi khuấy đều, chắt bỏ nước trên, gạn lấy nước giữa, bỏ cặn. Cứ 100g dược liệu tẩm với 100ml nước hoàng thổ để qua 2 – 3 giờ (hoặc phơi) hoặc sao cho vàng là được.

Có người dùng bột vàng sao với dược liệu, dược liệu tự bám lấy một số bột đất trong khi sao cho chất dầu tiết ra, sao vàng cạnh là được. Có người lấy bột đất sét hòa với nước cho vừa sền sệt tẩm vào miếng Truật cho lên chảo sao khô đến vàng cạnh.

Tỳ thuộc thổ, vàng là màu của thổ, đất là chất của thổ, sao hoàng thổ để dẫn thuốc vào tỳ vị.

Dược liệu có tinh dầu sinh ra tinh ráo, đất sao với Truật hút một số dầu của do đó làm giảm tính ráo đi.

Tẩm nước đậu đen, nước Cam thảo: Cứ 100g đậu đen cho vào một lít nước đun kỹ (đối với cam thảo thì tán bột ngâm 1 ngày 1 đêm) lấy nước sắc mà tẩm Hà thủ ô, TRâu cổ, Viễn chi. Số lượng nước tẩm thường từ 10 – 20% dược liệu.

Tẩm nước đậu đen, nước Cam thảo để giải độc, làm tính thuốc êm dịu đỡ chat.

Thủy phi:  Thủy phi là phương pháp tán nghiền dược liệu trong nước với mục đích sau đây.

Lấy bột mịn tinh khiết.

Làm cho bột mịn không bay lên được khi tán nhỏ.

Để tránh sức nóng làm biến hóa thành phần của thuốc.

Trước hết đem tán dược liệu cho thật nhỏ (Ngũ linh chi, Thạch quyết minh…) đổ nước vào cho ngập quá đốt ngón tay. Quấy đều, hớt bỏ màng, bụi rác, nổi trên mặt nước, đồng thời vừa khuấy nhẹ, vừa gạn nước sang bên khác, thứ không tan được (cặn) thì bỏ đi. Nước gạn được để lắng một thời gian, đến khi nước thành trong thì chắt nước này bỏ đi. Chất lắng xuống đem phơi ván tán lại thành bột, làm được 2, 3 lần càng tốt.

Dược liệu kỵ nóng, không tán khô được (Chu sa), thì cho vào ít nước rồi tán.

 

III – DÙNG LỬA (hỏa chế)

Đem dược liệu trực tiếp hoặc gián tiếp với lửa làm cho thuốc khô ráo, xám vàng hoặc thành than với mục đích để bảo quản hoặc để đổi tính chất và tăng hiêu lực của thuốc.

Sao là công việc thường xuyên của người bào chế, cũng là phương pháp quan trọng của việc bào chế thuốc phiến.

Đồ dùng để sao thường là chảo gang, cái đảo cái bàn xăm hay đôi đũa và cả một chổi để quét dược liệu ra khỏi chảo gang. Trước khi sao, dược liệu cần được phân loại to, nhỏ để sao được vàng già và đều, không sao chung thứ to lại chưa được.

Khi sao cần chú ý những điều sau đây:

Về già non (màu sắc của thuốc trong chảo sao)

Về thời gian (nên nhanh hay chậm)

Về lừa (nên to, nhỏ, hay vừa);

Về cách đảo thuốc (nhanh hay chậm);

Về khói thuốc (nhiều hay ít, đen hay vàng trắng);

Tất cả các điểm trên đây cùng chú ý trong một lúc để dược liệu sao đạt được yêu cầu.

Có hai cách sao: sao không thêm chất khác

Sao có thêm chất khác.

  1. Sao không thêm chất khác
  1. Sao vàng: Sao cho ngoài có màu vàng, trong ruột vẫn như màu cũ, cốt có mùi thơm, hoặc để vị thuốc bớt tính lạnh. Lửa để nhỏ thời gian sao lâu, cốt để nhiệt độ thấu nóng vào đến ruột (ngưu bàng, Hoài sơn, Hòe hoa…). Có thứ thước khi sao, vảy qua nước cho ẩm, để sức nóng thấm vào trong mà không cháy cạnh: Ý dĩ, Đậu đen…
  2. Sao vàng hạ thổ: quét sạch đất (có người đào hố sâu dưới đấ 10 – 30cm úp thuốc xuống. đậy vung lại để 10 – 5p cho nguội (nên trải miếng vải hoặc giấy mỏng, rồi úp thuốc lên cho được sạch sẽ).

Cách sao này có ý nghĩa như sau:

Cho vị thuốc khô dễ bảo quản.

Cho vị thuốc dễ lên mùi, thơm để nhập tỳ, không buồn nôn.

Để giảm bớt tính lạnh của thuốc (phần âm) bằng cách dùng lửa. Khi dùng lửa như vậy thì phần dương của thuốc tăng lên mà gây hóa độc (nóng, sôt, đinh mụn) cho nên phải hạ thổ để hút bớt phần dương của thuốc (hỏa độc) đồng thời trả lại ít phần âm cho thuốc (cân bằng âm dương).

Ví dụ:Rễ cỏ Xước, gối hạc, lá muồng trâu…

  1. Sao già xén cạnh: Áp dụng cho các vị thuốc chua chát hoặc tanh thơm quá (Binh lang, Hòe giác, Chỉ thực, Thăng ma) để thay đổi mùi vị đi nhưng vẫn đảm bảo chất thuốc.

Dùng lửa to khi chảo đã thật nóng mới bỏ thuốc vào, đảo không cần nhanh, khi thấy mặt ngoài xém cạnh là vừa, mầu ruột thuốc vẫn giữ nguyên.

  1. Sao tồn tính (hắc sao):

Để thêm tác dụng tiêu thực, tả lỵ huyết, khái huyết hoặc làm thay đổi tính chất của thuốc (hương phụ, Địa du, Hắc kinh giới…).

Để lửa già, chảo thật nóng, đảo đều đến khi bên ngoài cháy đen, bẻo ra trong còn màu vàng cũ là được.

  1. Sao cháy (thán sao)

Để thuốc có tác dụng chỉ huyết, lửa để già,chảo thật nóng, dược liệu để cháy đen, đảo đều. Úp vung lại ngay để nguội (thán khương).

Sao cháy không có nghĩa là sao thành tro mà bao giờ cũng cho cháy 7/10 là được. So với tồn tính, mức độ có cháy hơn.

Mấy điều cần chú ý khi sao cháy:

  • Không nên sao nhiều một lúc vì sẽ không đều và dễ gây hỏa hoạn.
  • Sao cái lớn trước, cái nhỏ sao sau.
  • Không nóng ruột, không châm lửa cho cháy, không phun nước vào, nhưng cũng có khi phải châm lửa đốt (ô mai).
  • Chuẩn bị cái vung để úp chụp, đậy kín (dược liệu sao cháy có lửa âm ỉ ở dưới, nếu không đậy vung, bỏ thấy, có thể tự nhiên bốc cháy gây hỏa hoạn).
  1. Sao có thêm chất khác:

Sao thuốc bằng cái, bằng bột văn cáp (vỏ hàu hến) hoặc hoạt thạch là mượn các thứ này làm trung gian truyền nhiệt (cát giữ nhiệt ở 300 độ, văn cáp 250 độ, hoạt thạch 200 – 220 độ). Khi sao các thức đo bao quanh miếng thuốc.

  1. Sao cát:

Chọn thứ mịn nhỏ, đãi thật sạch, cho cát vào chảo rang trước cho nóng già (lửa lúc đầu nhỏ sau to dần); sau khi cho thuốc vào đảo thật đều tay, khi được đổ vào sáng mà sàng sấy thuốc, Xuyên sơn giáp…

  1. Sao hoạt thạch, văn cáp

Áp dụng cho những chất dẻo, chất có dầu, nhựa để khỏi dính vào nhau hoặc bớt mùi tanh khét và sau dễ tán ( A giao, Lông nhím…)

  1. Chích:

Tức là nước dược liệu đã được tẩm mật (Cam thảo, Hoàng kỳ…) cho đến khi thấy thơm, khô là được.

  1. Đốt rượu

Áp dụng cho những dược liệu không chịu được sức nóng cao (nhung Hươu, Nai). Dùng cồn 90 độ đốt, hơ miếng nhung lên lửa để đốt cháy lông.

Làm như vậy không bị cháy xém, hơi rượu thấm nhưng làm nhung thơm hơn, không gây tanh, bảo quản tốt.

  1. Nung (hà): có nhiều cách nung
  1. Những loại kim thạch nung trong những vò đất, hay chảo gang đậy kín hay không đậy kín, xung quanh bên ngoài đốt lửa đến khi được lấy ra để nguội hoặc nhúng vào một chất loãng khác (giấm, nước Hoàng liên) cho nguội (cách này còn gọi là tôi).

Muốn trét được kín, dùng cám và lá khoai hai thứ bằng nhau cho thêm chút nước, nghiền cho nhuyễn rồi trét 2 chất này trộn với nhau thành một chất chịu được nóng không bị nứt nẻ, lấy giấy bản đặt lên chỗ trét rồi thấm nước cho ướt.

Bằng sa, Phèn chua, thường hầm không phải đậy kín. Thạch tín phải đậy kín (thăng hoa).

  1. Đưa dược liệu trực tiếp vào lửa nóng ( Thạch cao, Mẫu lệ, Thạch quyết minh…) để cho đỏ hồng.

Số lượng ít thì bỏ thẳng vào lò than đỏ, trên lưỡi dao hoặc mảnh ngói.

Số lượng nhiều hơn thì đặt dược liệu trên miếng sắc úp một cái chảo lên.

Số lượng nhiều hơn nữa thì cứ lượt trấu, lượt than, rồi lượt dược liệu và cứ thế cho đến hết, trên cùng phủ lớp trấu và than. Có thể đốt từ trên xuống hoặc từ dưới lên để cho cháy âm ỉ. Khi cháy gần hết rồi lấy dược liệu ra để nguội. Thấy dễ bẻ là được. Nung xong rồi, dược liệu được đem tán bột, dùng hoặc thủy phi rồi dùng.

  1. Lùi (ổi)

Đưa thuốc vào tro nóng, không bén tới lửa, đến khi nóng chín thì lấy ra (Ổi  khương, Cam thảo…) có khi dược liệu được bọc vào giấy thấm ướt hoặc bọc cám rồi mới dùi vào tro nóng, đến khi giấy hay cám khô là được (Cam thảo, Mộc hương…).

Phương pháp này có tác dụng thu hút một phần dầu trong dược liệu để giảm bớt tính kích thích.

  1. Sấy (bồi)

Dùng lửa nhỏ để sấy dược liệu cho khô ráo, hơi vàng ròn là được (thủy diệt, manh trùng…).

 

IV – DÙNG ĐẾN LỬA VÀ NƯỚC (thủy hỏa hợp chế)

Phối hợp lửa và nước để thay đổi tính chất của dược liệu.

  1. Chưng

Chế biến dược liệu bằng cách đun cách thủy có những mục đích như sau:

  • Làm chín vị thước để tiện cho việc bào mỏng, chế thuốc tễ.
  • Thuốc chưng với rượu thường đổi chất thấy ngọt và thơm hơn, thêm sức ôn bổ, những vị đắng chát giảm đi, mùi tanh lợm mất đi, khí lạn cũng bớt nhứ Thục địa, Đại hoàng…
  • Thuốc được chưng với rượu khi vào tỳ vị dễ đồng hóa , dễ hấp thụ nên có tác dụng bồi bổ.
  • Một số vị thuốc chưng với rượu, chất thuốc khó bị hư hỏng.

Xếp dược liệu vào trong cái cóng, đổ nước (hoặc tưới rượu) vào cho vừa đủ, đậy kín. Đặt cóng vào thùng hay chảo có nước ngập nửa cóng, dưới đáy cóng có lót một miếng gỗ để cóng không sát vào thùng. Đun nhỏ lửa, thời gian chưng tùy từ ng vị thuốc và số lượng chưng (50kg Thục địa phải 35 giờ, Đại hoàng 48 giờ), cho vừa hết nước trong cái cóng.

Khi chưng xong rồi, đem phơi tái. Nếu còn nước dư trong cóng thì lấy mà tẩm cho hết. Làm như vậy 9 lần tức là “ cửu chưng, cửu sái” (9 lần chưng, 9 lần phơi). Khi phơi lấy vải màn che để tránh ruồi, bụi.

  1. Đồ (hóng)

Dược liệu có thể ngâm cho mềm để bào chế, dễ thái, nhưng ngâm lâu có thể mất chất. Cho nên phải đồ, tức là dùng hơi nước làm mềm dược liệu. Thời gian đồ tùy theo số lượng và tính chất của thuốc. Loại mềm xốp, có hương vị thì thời gian đồ ít hơn. Đồ xong thường đem bào nóng thì dễ bào hơn.

Dụng cụ là cái chõ, xếp dược liệu to xuống dưới. Nhỏ lên trên, thời gian đồ không nên kéo dài nếu không dược liệu sẽ nát (Phục linh, Xuyên khung, Bạch truật).

  1. Nấu:

 Dùng một chất loãng (nước, dầu…) nấu dược liệu để làm mềm cho đễ bào chế và để làm giảm tính kích thích của vị thuốc hoặc để làm tăng một số hiệu năng khác như nấu với dầu (Mã tiền), nước đậu đẹn (Hà thủ ồ), nước thường (hoàng tinh). Nước nấu thường ngập quá dược diệu 5 – 10cm (nấu cao) hoặc gấp 19 lần dược liệu (Mã tiền).

Nấu khác với sắc, sắc là nấu đến một mức độ nào thì thôi.

 

V – CÁC CÁCH CHẾ KHÁC

  1. Chế

Một dược liệu qua nhiều chặng chế biến gọi là chế. Mỗi dược liệu có 1 cách chế riêng, phương pháp làm khác phức tạp như Hương phụ tứ chế và thất chế, Hoàng nàn chế.

  1. Chế khúc

Dùng dược liệu tán nhỏ trộn với nước đóng thành bánh rồi sấy khô gọi là khúc bán hạ, thần khúc…

  1. Chế sương

Sương có nghĩa là những bụi mưa lún phún bay lưng chừng, nói về thuốc là những vị  thuốc đã được chế biến tinh khiết thành bột mịn (phê sương): Cho dược liệu vào cái bát rộng (Thạch tín), úp cái bát khác nhỏ hơn, trét kín. Đốt ở ngoài để dược liệu thăng lên và kết tinh vào lòng bát trên. Cạo lấy phấn.

Yêu cầu của việc chế thuốc phiến:

Dược liệu bào chế thuốc phiến phải chọn thứ tốt, to mập, để miếng thái, bào được to đẹp.

Sau khi đã qua các giai đoạn chọn lọc, rửa sạch (củ, rễ, thân, lá), ngâm ủ đồ mềm thì đem ra thái bào. Độ dầy của thuốc phiến chỉ nên 1 – 2 ly. Những thứ vụn nhỏ thì dùng làm thuốc hoàn tán.

Khi tẩm sao thuốc phiến phải nhẹ nhàng tránh vỡ nát, hao thuốc.

Khi bào thái tránh rơi vãi xuống đấy rồi nhặt lên; khi phơi để vào mẹt sạch, nơi cao ráo, xa nơi đi lại.

Thuốc phiến không nên để lâu, các thứ tẩm sao thì nên dùng đến đâu bào chế đến đó, để lâu trong vòng từ 10 – 15 ngày là cùng. Cũng có thứ dùng dến đâu tẩm sao đến đấy.

Để trong thùng, lọ kín, nơi khô ráo, thỉnh thoảng đem phơi lại, để tránh ẩm mốc.

Các thủ thuật về bào chế thuốc phiến 4.85/5 (96.70%) 6 votes

Không có một loại thuốc nào có thể điều trị chung cho tất cả các người bênh, mỗi người bệnh đều có nguyên nhân và cách điều trị khác nhau, cơ thể hàn, nhiệt khác nhau vì vậy Bệnh nhân cần được Thầy Thuốc kê đơn trực tiếp, phù hợp với thể trạng, cơ địa của từng người.

Hãy chăm sóc sức khoẻ bằng y học cổ truyền.

Địa chỉ liên hệ tư vấn khám bệnh từ xa, Lương y Nguyễn Thị Khang,  0915 913 255

Quý khách lưu ý: Trước khi bốc thuốc cho bệnh nhân, các vị thuốc tại Đông Y Thọ Khang Đường đều được rửa lại sạch sẽ, sau đó được phơi khô và cho vào chảo lớn để sấy khô trên bếp, để đảm bảo vị thuốc luôn được khô ráo, sạch sẽ.